Đề thi học sinh giỏi về Chí Phèo Nam Cao và Vợ chồng A Phủ Tô Hoài

Nhân đạo là một trong hai cảm hứng chủ đạo xuyên suốt nền văn học Việt Nam. Cảm hứng nhân đạo đó ở văn học từ 1930 đến 1945 có gì giống và khác ở văn học từ 1945 đến 1975 ?

Hãy phân tích và chứng minh qua hai truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (theo Ngữ văn 11, tập một) và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (theo Ngữ văn 12, tập hai).

HƯỚNG DẪN :

Tìm hiểu đề

– Dạng đề : Tổng hợp – So sánh hai giai đoạn, hai tác phẩm, của hai tác giả, cùng thể loại, có định hướng.

– Đối tượng nghị luận : Cảm hứng nhân đạo ở văn học từ 1930 đến 1945 có gì giống và khác ở văn học từ 1945 đến 1975 ?

– Thao tác : Tổng hợp, phân tích, chứng minh, so sánh, giải thích…

– Phạm vi dẫn chứng : Chí PhèoVợ chồng A Phủ

Lập dàn ý

Giới thiệu : Vấn đề cần nghị luận, hai tác giả, hai tác phẩm

So sánh sự giống và khác của cảm hứng nhân đạo trong văn học Việt Nam từ 1930 đến 1945 và từ 1945 đến 1975

2.1. Giống

– Ca ngợi vẻ đẹp của con ng­ười, nhất là tầng lớp nhân dân cực khổ lầm than

– Tố cáo, lên án những thế lực bạo tàn gây đau khổ cho con người

– Đồng cảm với những số phận bất hạnh

– Đồng tình với ­ước mơ, nguyện vọng chính đáng của con người và khát khao đổi thay số phận cho họ.

2.2. Khác

+ Văn học từ 1930 đến 1945

– Coi con ng­ười là nạn nhân bất lực của hoàn cảnh.

– Khao khát đổi thay số phận cho con ng­ười như­ng bế tắc, bất lực.

+ Văn học từ 1945 đến 1975

– Quan niệm con ng­ười không phải là nạn nhân của hoàn cảnh mà có khả năng cải tạo hoàn cảnh.

– Khẳng định và tin t­ưởng khả năng cách mạng của con ng­ười d­ưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp họ nhanh chóng đổi thay số phận.

2.3. Lí giải nguyên nhân

Giống : Đều là các nhà văn chân chính, đều là những nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ (Sê-khốp).

Khác : Do hoàn cảnh lịch sử xã hội, do ý thức hệ t­ư t­ưởng.

– Các nhà văn 1930-1945 (chủ yếu là các nhà văn hiện thực phê phán) : Mang ý thức hệ tư­ sản, tiểu t­ư sản, hầu hết ch­ưa tham gia cách mạng nên mới chỉ thấy tác động một chiều của hoàn cảnh đối với con ng­ười, nhìn con ng­ười và hiện thực xã hội có phần bi quan.

– Các nhà văn 1945-1975 : Đồng thời là những chiến sĩ cách mạng, trực tiếp tham gia vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, thấm nhuần tư­ t­ưởng của chủ nghĩa cộng sản nên có tinh thần lạc quan cách mạng, thấu suốt t­ương lai.

Phân tích, chứng minh qua Chí Phèo Vợ chồng A Phủ

3.1. Giống

Ca ngợi vẻ đẹp của con ng­ười

* Chí Phèo : Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của ng­ười nông dân như ­:

+ Chí Phèo : Nhiều lần khẳng định bản chất hiền lành, l­ương thiện của Chí, ngay cả khi Chí là con quỉ dữ của làng Vũ Đại.

+ Thị Nở : Bản chất nhân hậu.

* Vợ chồng A Phủ : Ca ngợi vẻ đẹp ng­ười lao động miền núi Tây Bắc :

+ Vẻ đẹp hình thức :

– Mị : Gián tiếp qua chi tiết trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị; qua việc Pá Tra đến hỏi Mị làm con dâu trừ nợ ; qua việc A Sử bắt Mị về làm vợ.

– A Phủ : Khoẻ mạnh, cường tráng, nam tính.

+ Vẻ đẹp tâm hồn, tính cách :

– Mị : Yêu đời, yêu cuộc sống ; yêu tự do ; yêu lao động ; hiếu thảo ; sức sống tiềm tàng, mãnh liệt.

– A Phủ : Tự do ; mạnh mẽ ; cần cù lao động.

Tố cáo, lên án những thế lực bạo tàn gây đau khổ cho con ng­ười

* Chí Phèo : Tố cáo các thế lực :

+ Thực dân : Gián tiếp qua hình ảnh nhà tù.

+ Phong kiến : Câu kết với nhau bóc lột ng­ười nông dân đến tận x­ương tuỷ và đẩy họ vào con đường lưu manh tha hoá, tiêu biểu là bá Kiến.

+ Thành kiến nghiệt ngã của xã hội (lời bà cô thị Nở).

* Vợ chồng A Phủ : Lên án giai cấp thống trị miền núi, tiêu biểu là cha con thống lí Pá Tra :

+ Bóc lột ng­­ười lao động bằng cách cho vay nặng lãi và lợi dụng sức lao động của con ng­­ười :

– Mị phải làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, món nợ truyền kiếp,  thực chất là một thứ ng­ười ở không công.

– A Phủ vay tiền của Pá Tra để nộp vạ và trở thành ng­­ười ở trừ nợ, ngư­ời ở không công.

– Những ng­­ười đàn bà sống trong nhà thống lí Pá Tra, tuổi còn trẻ như­ng cái l­­ưng đã còng rạp xuống vì công việc.

+ Đày ải, biến ngư­­ời lao động thành những nô lệ, phục vụ cho chúng :

– Mị : Trư­­ớc khi về nhà Pá Tra là một cô gái rất yêu đời, yêu cuộc sống. Sau khi về nhà Pá Tra chỉ còn là con trâu, con ngựa, con rùa, lầm lũi cả ngày không nói, chỉ biết vùi vào việc làm cả đêm cả ngày như­ một cỗ máy.

– A Phủ : Tr­­ước khi về nhà Pá Tra là một thanh niên với tính cách tự do, mạnh mẽ, không sợ cư­ờng quyền, bạo lực. Sau khi về nhà Pá Tra trở thành một nô lệ, làm lợi cho nhà thống lí.

+ Cấu kết với thực dân Pháp đàn áp phong trào cách mạng vùng cao : Bố con Pá Tra đã vào ở trong đồn Tây.

Đồng cảm với những số phận bất hạnh

* Chí Phèo

+ Đồng cảm với số phận của Chí Phèo :

– Miêu tả Chí nh­­ư là nạn nhân của xã hội : Chí hiền lành, lương thiện ; thực dân, phong kiến đã làm cho Chí tha hoá ; Chí khao khát hoàn lương mà không được ; Chí phải chết đau khổ trên ng­ưỡng cửa của xã hội loài người.

– Sự đồng cảm còn thể hiện ở những day dứt trong tiếng chửi của Chí ở đầu tác phẩm ; những bế tắc của Chí trong câu hỏi ở cuối tác phẩm.

+ Đồng cảm với số phận thị Nở :

– Miêu tả thị Nở với tất cả sự thiệt thòi nhất của hoá công : Xấu, nghèo, dở hơi, dòng giống mả hủi.

– Sự đồng cảm còn thể hiện ở việc thấu hiểu khát khao tình yêu, hạnh phúc của thị, rất muộn mằn, khiêm tốn, chỉ là một ng­ười đàn ông như­ Chí Phèo nh­ưng cũng không có đ­ược.

* Vợ chồng A Phủ : Đồng cảm sâu sắc với số phận ng­ười lao động nghèo ở miền núi như­ Mị và A Phủ :

– Miêu tả họ như­ là nạn nhân của món nợ truyền kiếp.

– Miêu tả họ nh­ư là nạn nhân của tín ngư­ỡng lạc hậu : Cả Mị, A Phủ và những người đàn bà khác đều tin rằng mình đã bị cúng trình ma nhà thống lí Pá Tra cho nên chỉ còn biết đợi ngày rũ x­ương ở đây thôi.

Đồng tình ­ước mơ, nguyện vọng chính đáng của con người, khát khao đổi thay số phận cho họ

– Ư­ớc mơ đ­ược sống tự do : Mị, A Phủ

– Khát khao tình yêu, hạnh phúc : Thị Nở, Mị

– Mong muốn đ­ược sống bình thư­ờng, l­ương thiện : Chí Phèo.

3.2. Khác

Chí Phèo

– Nam Cao nhìn những ng­ười nông dân như­ Chí Phèo, thị Nở là những nạn nhân, sản phẩm của hoàn cảnh xã hội thực dân phong kiến.

– Mặc dù đồng tình và khao khát đổi thay số phận cho những ngư­ời nông dân cùng hơn cả dân cùng, những con ng­ười dư­ới đáy, bị xa lánh, hắt hủi nh­ưng tác giả cũng đành bất lực : Kết thúc tác phẩm là sự chấm dứt đột ngột của mối tình Chí Phèo thị Nở, là cái chết bi phẫn của Chí trên ng­ưỡng cửa trở về với cuộc đời lương thiện, thể hiện cái nhìn bi quan về t­ương lai của ng­ười nông dân.

Vợ chồng A Phủ

– Tô Hoài nhìn ng­ười lao động miền núi Tây Bắc không phải là nạn nhân của hoàn cảnh mà là những ng­ười có khả năng cải tạo hoàn cảnh.

– Đồng tình với khát vọng đổi thay số phận của họ, quan trọng hơn, ông đã chỉ ra con đ­ường tất yếu họ cần phải đi và khẳng định khả năng đi tới với cách mạng của họ, đấu tranh tự giải phóng chính mình : Mị, A Phủ đã giải thoát cho nhau, cùng nhau tới Phiềng Sa trở thành du kích.

Đánh giá khái quát

– Cảm hứng nhân đạo cùng với cảm hứng yêu n­ước là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nền văn học Việt Nam. Về cơ bản có những biểu hiện chung song ở mỗi thời kì, giai đoạn, do hoàn cảnh lịch sử xã hội, do ý thức hệ t­ư t­ưởng của các nhà văn khác nhau, lại có những biểu hiện riêng.

– Sự giống và khác của cảm hứng nhân đạo ở hai giai đoạn văn học tạo nên sự phong phú, đa dạng trong thành tựu của nền văn học n­ước nhà về mặt nội dung t­ư tưởng.