Đề thi học sinh giỏi :Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại qua 2 bài Tràng Giang -Huy Cận và Chiều tối-Hồ Chí Minh

Phân tích trong thế đối sánh để thấy được sự tương đồng và khác biệt của hai bài thơ Tràng giang (Huy Cận) và Chiều tối (Hồ Chí Minh) về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại.

Tìm hiểu đề

– Dạng đề : Tổng hợp – So sánh 2 tác phẩm, của 2 tác giả, cùng giai đoạn, cùng thể loại, khác khuynh hướng có định hướng.

– Đối tượng nghị luận : sự tương đồng và khác biệt về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại.

– Thao tác : Tổng hợp, phân tích, chứng minh, so sánh, giải thích…

– Phạm vi dẫn chứng : Tràng giangChiều tối

Lập dàn ý

Giới thiệu : Hai tác giả Hồ Chí Minh, Huy Cận ; hai bài thơ Tràng giang, Chiều tối ; nội dung cần nghị luận

Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại

2.1. Vẻ đẹp cổ điển

* Vẻ đẹp cổ điển được hiểu là vẻ đẹp đã trở thành chuẩn mực trong văn học trung đại. Biểu hiện :

+ Có cảm hứng đặc biệt đối với thiên nhiên

+ Miêu tả thiên nhiên theo kiểu chấm phá, không miêu tả nhiều chi tiết, cốt ghi lấy linh hồn của cảnh vật

+  Hình ảnh nhân vật trữ tình trong thơ bình tĩnh, ung dung như giao hoà với trời đất.

* Nói một bài thơ hiện đại có vẻ đẹp cổ điển là muốn nói bài thơ đó gợi cho ta nhớ tới vẻ đẹp của những bài thơ cổ ở cách dùng từ, cách sử dụng các thi liệu, cách tả cảnh (theo lối chấm phá), cách tả tình (tả cảnh ngụ tình)…

2.2. Vẻ đẹp hiện đại : Nói vẻ đẹp hiện đại là nói tới sự sáng tạo, sự cách tân của cá nhân nhà thơ hiện đại thể hiện ở cách cảm, cách tả, cách sử dụng ngôn từ… không còn tính qui phạm như trong thơ cổ, tuy họ vẫn kế thừa vẻ đẹp của thơ cổ.

Sự tương đồng và khác biệt của hai bài thơ về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại

3.1. Sự tương đồng

Vẻ đẹp cổ điển

– Cảm hứng thiên nhiên vào thời điểm buổi chiều

– Thi liệu hầu hết đều có trong thơ cổ

Vẻ đẹp hiện đại : Hình ảnh, chi tiết đều là thực chứ không phải ước lệ như trong thơ cổ

3.2. Sự khác biệt

Vẻ đẹp cổ điển

* Tràng giang

+ Tên bài thơ là một từ Hán Việt

+ Cảm hứng đặc biệt với thiên nhiên : Bài thơ tràn ngập cảnh vật thiên nhiên : sông nước, mây, bầu trời, núi, nắng

+ Hình ảnh quen thuộc của thơ xưa : Dòng sông, con thuyền, đám mây, cánh chim, núi

+ Từ ngữ, hình ảnh mượn của Đường thi (từ đùn mượn của Đỗ Phủ ; hình ảnh khói hoàng hôn mượn của Thôi Hiệu)

+ Hình ảnh nhân vật trữ tình đối diện với thiên nhiên, gợi hình ảnh lữ thứ trong thơ cổ Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn (Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan)

* Chiều tối

+ Chữ viết : Nguyên tác chữ Hán

+ Thể thơ : Thất ngôn tứ tuyệt

+ Thi đề : Giai thì, một đề tài hấp dẫn của thơ cổ (Nhật kí trong tù có nhiều bài lấy thi đề là giai thì : Tảo – Buổi sớm ; Ngọ – Buổi trưa ; Ngọ hậu – Quá trưa ; Vãn – Chiều hôm ; Mộ – Chiều tối)

+ Bút pháp miêu tả thiên nhiên : Theo kiểu chấm phá, không tả nhiều, chỉ chọn hai hình ảnh chim, mây ; không tả cụ thể, chỉ cốt ghi lấy linh hồn của thiên nhiên tạo vật (quyện điểu, cô vân)

+ Nhân vật trữ tình : Phong thái ung dung, tự do, tự tại như giao hoà với trời đất.

Vẻ đẹp hiện đại

* Tràng giang

+ Chữ viết Quốc ngữ

+ Thể thơ tự do

+ Ngôn ngữ được cá thể hoá cao độ dợn dợn, nhỏ

+ Những chi tiết, hình ảnh của cuộc sống đời thường được đưa vào thơ, trở thành đối tượng thẩm mĩ củi một cành khô.

+ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng không cần ngoại cảnh Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

+ Sử dụng triệt để nghệ thuật tương phản đối lập rất hội hoạ, ấn tượng, hiện đại của văn học lãng mạn (cả 4 khổ).

* Chiều tối : Tinh thần hiện đại là tinh thần cách mạng, tinh thần chiến đấu được thể hiện qua phẩm chất của nhân vật trữ tình.

+ Cảnh : Được nhìn và miêu tả trong sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui, giàu sức sống, từ lạnh lẽo đến ấm nóng (hai câu đầu tả cảnh thiên nhiên, bức tranh đẹp nhưng buồn, thấm thía cảm giác cô đơn, lạnh lẽo ; hai câu cuối tả cảnh lao động, sinh hoạt tràn đầy niềm vui, sự ấm nóng của con người)

+ Nhân vật trữ tình : Ý chí kiên cường, bất khuất, không nao núng trước mọi gian khổ, luôn lạc quan, tin tưởng, làm chủ tình thế, vượt lên trên chiến thắng hoàn cảnh, chủ động đón nhận mọi thử thách, khó khăn (không phải là người tù trên đường đi đày mà là thi sĩ nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên và là một chiến sĩ tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng).

Lí giải nguyên nhân

Tương đồng

– Cùng giai đoạn văn học 1930-1945

– Tác giả đều là những nhà thơ có ý thức kế thừa truyền thống và phát huy hiện đại. Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong môi trường Hán học, học chữ Hán từ nhỏ, đồng thời lại tiếp xúc với nhiều nền văn minh khác nhau nên rất hiện đại ; Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà nho, đỗ tú tài toàn phần, đồng thời là một trí thức Tây học, được tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây.

– Sự kết hợp hai yếu tố cổ điển, hiện đại là một đặc điểm của phong cách thơ Hồ Chí Minh, Huy Cận (trước1945). Hai bài thơ đều rất tiêu biểu cho hồn thơ của hai tác giả.

Khác biệt

* Về tuổi tác

+ Hồ Chí Minh : Khi viết bài thơ đã hơn 50 tuổi, đã từng trải, dày dạn kinh nghiệm nên bản lĩnh, bình tĩnh, tự tin, đối mặt và làm chủ hoàn cảnh.

+ Huy Cận : Khi viết bài thơ mới 20 tuổi, chưa trải nghiệm, lại gặp buổi mất nước nên dễ u buồn, nuối tiếc, bâng khuâng.

* Về khuynh hướng sáng tác

+ Chiều tối : Thuộc văn học cách mạng 1930-1945, mảng thơ ca trong tù, tác giả là một chiến sĩ cách mạng đã kinh qua, nắm vững qui luật vận động tất yếu của lịch sử.

+ Tràng giang : Thuộc phong trào Thơ mới 1932-1945, tác giả là một thi sĩ đặc biệt có cảm quan vũ trụ, mang trong mình nỗi buồn của cả một thế hệ các nhà thơ nhiệt tình yêu nước nhưng chưa đủ dũng khí, chưa được giác ngộ Cách mạng nên chỉ còn biết gửi lòng mình vào thơ ca, vào tình yêu tiếng Việt.

Đánh giá khái quát : Sự tương đồng và khác biệt của hai bài thơ về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại cho thấy :

– Đó là một vẻ đẹp của thơ hiện đại.

– Khẳng định thơ hiện đại không đoạn tuyệt với thơ truyền thống

– Sự phong phú, đa dạng của phong cách thơ Việt Nam hiện đại.