Đề thi học sinh giỏi về Hai đứa trẻ- Thạch Lam và Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân

Đối lập là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của văn học lãng mạn. Thủ pháp đó đã được thể hiện như thế nào qua đoạn văn miêu tả cảnh hai chị em Liên đêm đêm thức đợi chuyến tàu (Hai đứa trẻ – Thạch Lam) và đoạn văn miêu tả cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân) ? (theo Ngữ văn 11, tập một, NXBGD, HN hiện hành)

Tìm hiểu đề

– Dạng đề : Tổng hợp – So sánh hai đoạn trích trong hai tác phẩm, của hai tác giả, cùng giai đoạn, cùng thể loại, cùng khuynh hướng, có định hướng.

– Đối tượng nghị luận : Thủ pháp đối lập đặc trưng cơ bản của văn học lãng mạn

– Thao tác : Tổng hợp, phân tích, chứng minh, so sánh, giải thích…

– Phạm vi dẫn chứng : đoạn văn miêu tả cảnh hai chị em Liên đêm đêm thức đợi chuyến tàu (Hai đứa trẻ – Thạch Lam) và đoạn văn miêu tả cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân)

Lập dàn ý

Giới thiệu : Hai tác giả Thạch Lam, Nguyễn Tuân ; hai tác phẩm Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù ; hai đoạn văn ; vấn đề cần nghị luận

Thủ pháp đối lập

– Là một trong những đặc trưng cơ bản của văn học lãng mạn

– Tác dụng : làm nổi bật đối tượng được miêu tả, gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc.

Thủ pháp đối lập thể hiện trong hai đoạn văn

3.1. Nét chung

– Đều sử dụng thủ pháp đối lập – đặc trưng của văn học lãng mạn

– Đều xây dựng những tương quan đối lập

– Đều thể hiện tấm lòng nhà văn đối với cuộc đời và con người.

– Đều thể hiện những quan niệm của nhà văn

3.2. Nét riêng

Đoạn văn miêu tả cảnh chị em Liên đêm đêm thức đợi chuyến tàu

a.1. Xây dựng những tương quan đối lập

* Đối lập giữa hoạt động, âm thanh của đoàn tàu và sự yên tĩnh nơi phố huyện

          + Hoạt động, âm thanh của đoàn tàu :

Tiếng còi xe lửa từ xa vang lại trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi ; Tiếng còi đã rít lên, tàu rầm rộ đi tới

Tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi

Tiếng hành khách ồn ào khe khẽ

Đó là những hoạt động, âm thanh vang động, mạnh mẽ, riết róng, hối hả. Đây là đoàn tàu của âm thanh và của niềm vui.

          + Sự yên tĩnh nơi phố huyện :

Người vắng mãi

Hàng cơm đóng cửa im lặng như ngoài phố

Ngoài kia đồng ruộng mênh mang và yên lặng

Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch.

– Có miêu tả âm thanh : Trống cầm canh đánh tung lên một tiếng ngắn khô khan không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối ; tiếng chó cắn ; hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ thỉnh thoảng từng loạt một… nhưng tất cả đều rất ngắn, nhỏ, càng tô đậm sự yên tĩnh.

Âm thanh, hoạt động của đoàn tàu đối lập với sự yên tĩnh nơi phố huyện. Nó như phá tan sự yên tĩnh trong giây lát.

* Đối lập giữa ánh sáng của đoàn tàu và bóng tối nơi phố huyện

          + Ánh sáng của đoàn tàu :

                   – Ngọn lửa xanh biếc sát mặt đất như ma chơi

                   – Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa

                   – Các toa đèn sáng trưng chiếu ánh cả xuống đường

                   – Những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt

                   – Cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng

Ánh sáng rực rỡ của đoàn tàu làm cả phố huyện như bừng lên, náo nức. Đây là đoàn tàu ánh sáng.

          + Bóng tối nơi phố huyện :

– Hàng cơm đóng cửa tối đen như ngoài phố

Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê

– Trong một đoạn văn ngắn mà rất nhiều bóng tối, tối đen, đêm tối, đêm tối, đêm, bóng tối, đêm khuya, đêm tối, đêm, đầy bóng tối.

– Thiên truyện bắt đầu vào lúc hoàng hôn, khi bóng tối bắt đầu xâm nhập phố huyện và kết thúc vào lúc 9 giờ đêm, khi bóng tối đã bao trùm, làm chủ. Đặc biệt câu văn cuối cùng Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối.

– Có miêu tả ánh sáng, ánh sáng của tự nhiên : Ngàn sao vẫn lấp lánh, một con đom đóm bám vào dưới mặt lá vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy, sao trên trời vẫn lấp lánh ; ánh sáng của cuộc sống con người : hai ba đèn lồng lung lay các bóng dài, bóng đèn lồng với bóng người đi về, đèn ghi, Liên vặn nhỏ ngọn đèn… nhưng hoặc quá xa vời, hoặc quá yếu ớt, càng tô đậm bóng tối.

à Ánh sáng của đoàn tàu đối lập với bóng tối dày đặc, bao trùm phố huyện. Nó như xua tan bóng tối trong giây lát.

* Đối lập giữa sự sang trọng của đoàn tàu và sự nghèo nàn nơi phố huyện

          + Sự sang trọng của đoàn tàu : những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người ngồi, đồng và kền lấp lánh, các cửa kính sáng. Đây là đoàn tàu của sự sang trọng.

          + Sự nghèo nàn nơi phố huyện :

– Chị Tí sửa soạn đồ đạc, đêm nay chỉ bán được cho hai, ba bác phu uống nước và hút thuốc lào, số tiền kiếm được rất ít ỏi.

– Bác Siêu gánh hàng đi vào trong làng, dọn ra rồi lại dọn vào, chẳng bán được cho ai.

– Vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu rách, không hát vì không có khách nghe, chẳng xin được đồng nào.

– Chị em Liên chẳng bán thêm được cho ai…

Tất cả đều cho thấy một cuộc sống nghèo nàn, bán buôn ế ẩm, đơn điệu, tẻ nhạt.

à Sự sang trọng của đoàn tàu đối lập với sự nghèo nàn nơi phố huyện. Nó như đẩy lùi sự nghèo nàn trong giây lát.

a.2. Thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn

+ Khơi gợi ở nhân vật những nhận thức sâu sắc, thấm thía :

– Nhận thức được đoàn tàu với những hoạt động, âm thanh mạnh, ánh sáng rực rỡ và sự sang trọng khác hẳn, đối lập, tương phản với hiện thực cuộc sống của phố huyện, của chị em Liên Con tàu như đã đem theo một chút thế giới khác đi qua. Thế giới ấy khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tý và ánh lửa của bác Siêu... (cách nói nhấn mạnh thế giới khác, thế giới ấy khác hẳn, khác hẳn).

– Ý thức được con tàu ánh sáng, hạnh phúc ấy chỉ là mơ ước vời xa Liên nhận thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi.

– Ý thức được thực tại cuộc sống của mình vẫn chỉ như chiếc đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Hình ảnh trở đi, trở lại nhiều lần trong tác phẩm, trong tâm trí Liên như một thứ ám ảnh về hiện thực cuộc đời lắt lay và bế tắc.

+ Đánh thức khao khát ở nhân vật về một thế giới khác, cuộc sống khác tươi sáng, hạnh phúc : Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm. Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo. Đó là thế giới của ánh sáng, niềm vui, hạnh phúc đối lập với thế giới nghèo nàn, yên tĩnh và đầy bóng tối nơi phố huyện. Do đó càng mơ tưởng, khao khát thoát khỏi thế giới này để vươn tới thế giới kia.

+ Nhà văn khát khao đổi thay số phận cho con người (đoàn tàu vừa là hình ảnh thực, vừa là hình ảnh mơ ước, trở thành biểu tượng của ánh sáng và hạnh phúc, là khao khát đổi thay số phận cho những cảnh đời – bóng tối) nhưng cuối cùng cũng đành bất lực (Nhưng Liên không nghĩ được lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối).

a.3. Thể hiện quan niệm của nhà văn : Con người, dù trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, cũng không bao giờ mất niềm tin, niềm hi vọng Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ.

Đoạn văn miêu tả cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục

b.1. Xây dựng những tương quan đối lập

* Ánh sáng và bóng tối

+ Bóng tối : Đêm khuya ; buồng tối chật hẹp

+ Ánh sáng : Không khí khói toả như đám cháy nhà, khói bốc toả, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu ; lửa đóm cháy rừng rực

à Sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, không còn bóng tối.

* Cái cao đẹp, tinh khiết và cái phàm tục, dơ bẩn

+ Cái cao đẹp, tinh khiết : Một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ, mùi thơm của thoi mực, chậu mực

+ Cái phàm tục, dơ bẩn : Buồng giam ẩm ướt, nền đất ẩm, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián

à Sự chiến thắng của cái cao đẹp, tinh khiết đối với cái xấu xa, dơ bẩn, không còn cái xấu, cái ác.

* Người cho chữ và người xin chữ 

          + Người cho chữ – Huấn Cao :

– Kẻ tử tù, thể xác mất tự do cổ đeo gông, chân vướng xiềng

– Khi cho chữ tư thế ung dung, đường hoàng, đĩnh đạc, làm chủ, sáng tạo ra cái đẹp dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván

– Sau khi cho chữ khuyên quản ngục : Nên thay chốn ở, nên tìm về nhà quê mà ở ; hãy thoát khỏi cái nghề này

+ Người xin chữ – quản ngục :

– Kẻ quản lí nhà giam, nắm giữ quyền hành

– Khi nhận chữ thái độ khúm núm cung kính, lễ phép trước Huấn Cao, kẻ tử tù.

– Khi nhận lời khuyên :

/ Thái độ cảm động

/ Hành động vái một vái, chắp tay

/ Lời nói nói một câu, dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào (vô cùng xúc động) : Kẻ mê muội này xin bái lĩnh (tự nhận mình là kẻ mê muội, đoạn trước tự nhận mình chọn nhầm nghề, tự ý thức được bản thân, tỏ rõ sự ân hận ; Xin bái lĩnh vừa lạy vừa nhận lấy một cách cung kính, tức là hoàn toàn tâm phục, khẩu phục).

b.2. Thể hiện quan niệm của nhà văn về cái Đẹp, cái Thiện, về con người

* Quan niệm của nhà văn về cái Đẹp, cái Thiện

+ Cái Đẹp có khả năng qui tụ con người, cái Đẹp có khả năng giúp con người hiểu, tin tưởng, quí mến nhau :

                   – Khi trước, họ đối đầu, giờ đây họ đã xích lại gần nhau, chụm lại với nhau để cùng hướng tới cái Đẹp : Ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ (chi tiết dự báo ở  đoạn trước quản ngục khêu thêm một con bấc).

– Cùng thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, tức là cái Đẹp với ánh nhìn của những người tri kỉ : Ba người nhìn bức châm rồi lại nhìn nhau

+ Cái Đẹp có thể ra đời, nảy sinh từ mảnh đất chết nhưng cái đẹp không thể chung sống cùng cái xấu, cái ác chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người.

+ Con người muốn thưởng thức cái Đẹp trước hết phải là người lương thiện, tức là cái Đẹp phải gắn với cái Thiện Hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ.

+ Cái Đẹp có khả năng cảm hoá con người Ngục quan cảm động vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào : Kẻ mê muội này xin bái lĩnh. Đây là chi tiết dự báo : Quản ngục sẽ thực hiện những lời khuyên của Huấn Cao, sẽ thay chỗ ở, tìm về nhà quê ; sẽ thoát khỏi cái nghề xấu, nghề ác, giữ thiên lương cho lành vững, không để nhem nhuốc mất cái đời lương thiện.

* Quan niệm của nhà văn về con người : Con người không phải bao giờ cũng là sản phẩm của hoàn cảnh. Quản ngục là người quản lí nhà tù nhưng lại có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, có những sở thích cao quý. Đó là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ, là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ, là con người có tâm điền tốt và thẳng thắn à cách nhìn nhận, đánh giá con người rất cởi mở (do khuynh hướng, bút pháp lãng mạn chi phối, khác các nhà văn hiện thực phê phán cùng thời quan niệm con người bao giờ cũng là sản phẩm của hoàn cảnh).

Nguyên nhân

Nét chung

– Hai tác giả đều là nhà văn lãng mạn 1930-1945, tuân thủ nghiêm ngặt qui định sáng tác của văn học lãng mạn.

– Cả hai tác phẩm đều mang màu sắc lãng mạn, thể hiện cái nhìn và những ấn tượng riêng, chủ quan của nhà văn về cuộc sống và con người.

Nét riêng

– Xét về mức độ và những biểu hiện cụ thể, có thể thấy Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là mẫu mực của kiểu sáng tác lãng mạn còn Hai đứa trẻ của Thạch Lam là sự kết hợp của hai yếu tố hiện thực và lãng mạn. Bởi vậy cho nên, tuy tác phẩm có gieo vào lòng người đọc những cảm xúc bâng khuâng, những tình cảm man mác và gợi trí tưởng tượng bay bổng nhưng đồng thời cũng đem đến những cảm nhận thấm thía về hiện thực đời sống con người.

– Do yêu cầu sáng tạo của văn học nghệ thuật nói chung và do cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn nói riêng.

Đánh giá khái quát

– Khẳng định lại đối lập là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của văn học lãng mạn. Thủ pháp đó đã được thể hiện rõ nét qua hai đoạn văn.

– Sự vận dụng triệt để thủ pháp đối lập ở hai nhà văn đã tạo nên những trang văn hay và đẹp, góp phần làm phong phú thêm dòng văn học lãng mạn và làm giàu nền văn học dân tộc.