Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 10

SỞ GD&ĐT LAI CHÂU

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 01
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KÌ I

Môn: Ngữ Văn 10

Ngày kiểm tra:    / 12/ 2016

Thời gian: 90 phút ( Không kể thời gian chép đề)

 

Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm)

              Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

(Ca dao)

Câu 1: Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 2: Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản? Nêu tác dụng.

Câu 3: Nêu nội dung chính của bài ca dao?

Phần II: Làm văn (7điểm)

    Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi (SGK Ngữ văn 10 – tâp 1).

                      “Rồi hóng mát thuở ngày trường,

                        Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.

                        Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

                        Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.

                         Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

                         Dắn dỏi cầm ve lầu tịch dương.

                         Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng,

                         Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

 

——————–Hết————————

Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

 

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 01
HƯỚNG DẪN CHẤM

MÔN: NGỮ VĂN  – LỚP 10

 

 

Câu Nội dung Điểm
Phần I: Đọc hiểu (3.0 điểm)  
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm 0.5
Câu 2 – Biện pháp tu từ: so sánh

– Tác dụng: Khẳng định giá trị vốn có của người phụ nữ.

0.5

1.0

Câu 3 Nội dung:  Phản ánh số phận bất hạnh của người phụ nữ, ý thức rất rõ giá trị của bản thân nhưng không tự quyết định được số phận, hạnh phúc của chính mình. 1.0
Phần II: Làm văn (7.0 điểm)  
  a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

0.5
  b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Điểm 0,5: Xác định vấn đề nghị luận.

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề nghị luận, trình bày lạc sang nội dung khác.

 

 

 

0.5

  c. Học sinh chọn đúng kiểu nghị luận, diễn đạt tốt, mạch lạc, kết cấu logic, hợp lí; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nêu khái quát nội dung văn bản. 0.5

* Bài thơ mở đầu bằng câu lục ngôn nêu rõ hoàn cảnh của nhà thơ lúc đó nhàn, rỗi rãi nên nhà thơ chỉ việc “hóng mát” suốt ngày dài, cuộc sống rất thảnh thơi. 0.25

– Cuộc đời Nguyễn Trãi không mấy lúc được thảnh thơi như vậy để hòa mình với thiên nhiên mà ông yêu mến. Nhưng giữa lúc chiến tranh vừa kết thúc, việc dân việc nước còn nhiều nỗi lo mà ông bị bắt buộc phải hóng mát hết ngày này qua ngày khác thì thật trớ trêu. 0.25

=> Bởi vậy, ông rơi vào cảnh thân nhàn mà tâm không nhàn. Câu thơ ẩn chứa một nụ cười chua chát.0.25

* Bức tranh cảnh ngày hè nơi Côn Sơn được miêu tả trong 5 câu thơ tiếp: ” Hòe lục …tịch dương” 0.25

–  Chỉ vài nét phác họa, bức tranh thiên nhiên đã hiện lên với hình ảnh: hoa hòe, thạch lựu, hồng liên,  trong sắc màu tươi thắm, rực rỡ nhất: xanh, đỏ, hồng. 0.25

– Sử dụng các động từ mạnh ” đùn đùn, phun” và các tính từ “đỏ, ngát” góp phần diễn tả một bức tranh thiên nhiên mùa hè tràn đầy sức sống. 0.25

=> Nguồn sống ấy như được thôi thúc từ bên trong, đang ứ căng, đang tràn đầy trong lòng thiên nhiên vạn vật, ko kìm lại được, khiến chúng phải “giương” lên, “phun” ra hết lớp này đếnlớpkhác.0.25
– Bức tranh ngày hè càng đặc sắc hơn khi có dấu hiệu âm thanh của sự sống con người: ” Lao xao …tịch dương”0.25

– Lao xao chợ cá:  Âm thanh đặc trưng của làng chài, là dấu hiệu của sự sống của con người. Âm thanh ấy từ xa vọng lại, chắc nhà thơ phải tinh tế lắm mới có thể lắng nghe. 0.25

=> Qua đó, thể hiện tấm lòng luôn hướng đến con người và cuộc sống của Nguyễn Trãi.0.25

– Âm thanh ấy hòa vào tiếng ve kêu “dắng dỏi” lúc chiều tà như tiếng đàn rộn rã, báo hiệu chấm dứt một ngày hè nơi thôn dã. 0.25

– Bức tranh thiên nhiên, cuộc sống được miêu tả vào thời điểm cuối ngày nhưng ko gợi cảm giác buồn, ảm đạm. Bởi ngày sắp tắt nhưng sự sống ko ngừng lại. Thiên nhiên vẫn vận động với một nguồn sống dồi dào, mãnh liệt. 0.25

=> Cuộc sống còn rộn rã những âm thanh tươi vui như nói lên nhịp sống ấm no hạnh phúc của nhân dân.0.25

* Hai câu thơ cuối thể hiện ước nguyện cao đẹp của nhà thơ: dù cáo quan về ở ẩn nhưng trong lòng nhà thơ vẫn nặng lòng lo cho nước, cho dân nên ước mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn để gảy khúc nhạc cho nhân dân thiên hạ thái bình no đủ  ” Dân giàu đủ khắp đòi phương”.0.25

– Ẩn giấu đằng sau lời ước mong ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quyền thần tham bạo ở triều đình đương thời không còn nghĩ đến dân, đến nước.  0.25

=> Dẫu hòa hợp hết mình với thiên nhiên  nhưng Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nỗi niềm yêu nước, thương dân.0.25

– Nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: 0.5

+ Bài thơ có cách diễn đạt ngắn gọn xúc tích chất chứa nhiều tầng ý sâu xa

+ Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, sử dụng lớp từ thuần Việt nhuần nhuyễn , nhiều hình ảnh lấy từ cuộc sống đời thường.

5.0

 

 

 

  * Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm…); văn viết giàu cảm xúc;

– Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo;

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo;

0.5
  * Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

0.5