Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu (Có dàn ý chi tiết)

Bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu là một trong những bài thơ đặc sắc viết về tình cảm của những người lính. Họ vốn là những con người xa lạ nhưng yêu mến và gắn bó với nhau với một tình nghĩa keo sơn. Họ gọi nhau một tiếng gọi thân thương: Đồng chí.

Để phân tích bài thơ Đồng chí được hay nhất các em cần lập dàn ý chi tiết cho đề văn này. Có như vậy thì trong quá trình làm bài sẽ không sợ bị thiếu ý, sót ý. Dưới đây là những hướng dẫn cho các em tham khảo.

I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Đồng chí

1. Mở bài

– Giới thiệu về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.

– Nội dung bài thơ viết về tình cảm của người lính dành cho nhau, qua đây chúng ta cũng thấy được những khó khăn mà người chiến sĩ đã phải trải qua.

2. Thân bài phân tích bài thơ Đồng chí

Đoạn 1: Cơ sở hình thành tình đồng chí

– Sự tương đồng trong hoàn cảnh xuất thân của những người lính

– Những người lính cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng, cùng sát cánh bên nhau trong tranh đấu.

– Cùng nhau chia sẻ khó khăn trong cuộc sống.

Đoạn 2: Những biểu hiện cảm động của tình đồng chí

– Sự cảm thông sâu sắc nỗi niềm của nhau.

– Cùng nhau chia sẻ những gian lao và thiếu thốn.

Đoạn kết: Bức tranh về tình đồng chí

– Hình ảnh thơ đầu súng trăng treo lãng mạn nhưng cũng là thực tế.

– Người lính, người đồng chí luôn kề vai sát cánh bên nhau làm nhiệm vụ.

3. Kết luận

– Tóm tắt lại nội dung của bài và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.

Bài viết liên quan

>> Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương (Có dàn ý chi tiết)

>> Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải (Có dàn ý chi tiết)

>> Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh (Có dàn ý chi tiết)

II. Bài làm phân tích bài thơ Đồng Chí

Nhà thơ Chính Hữu vốn xuất thân là một người lính. Ông tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Năm 1948, nhà thơ sáng tác bài thơ Đồng chí khi đang cùng với đồng đội của mình tham gia chiến dịch Việt Bắc. Bài thơ đã nói lên được tình nghĩa của những người chiến sĩ. Họ là những con người đã cùng nhau vào sinh ra tử, chia sẻ với nhau những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống và họ gọi nhau bằng một tiếng thân thương đồng chí.

Những câu thơ mở đầu đã cho chúng ta thấy được xuất thân của những người lính. Họ tuy có hoàn cảnh xuất thân không giống nhau nhưng lại tương đồng với nhau:

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

phan-tich-bai-tho-dong-chi

Phân tích bài thơ Đồng chí

Nước mặn đồng chua và đất cày lên sỏi đá đều là những vùng đất không thuận lợi cho việc sản xuất. Điều đó cho thấy, cả tôi và anh đều đến từ những vùng quê nghèo khó của đất nước. Phải chăng chỉ ra hoàn cảnh xuất thân nghèo khó là để cho người đọc hiểu được lý do vì sao mà những người lính dễ dàng yêu mến nhau? Thường con người ta thương nhau nhiều hơn, đồng cảm với nhau nhiều hơn trong nghèo khó. Từ xuất thân tương đồng như vậy, tình cảm của người lính càng thêm bền chặt khi họ có cùng chung một lý tưởng, cùng chung một nhiệm vụ. Đó là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Từ những con người xa lạ, nay không hẹn mà gặp rồi lại trở nên thân thiết:

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Rõ ràng là không quen nhau mà lại cứ ngỡ như là đã thân nhau từ trước. Để rồi:

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí.

Súng chính là hình tượng trưng cho sự chiến đấu của những người lính, là vật dụng quen thuộc không thể thiếu của người lính. Câu thơ tái hiện lại hình ảnh những người lính đang cầm súng kề vai, sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Những đêm mưa rừng, gió rét, họ cũng chung nhau đắp một tấm chăn, sưởi ấm nhau bằng hơi ấm của cơ thể, hơi ấm của tình người. Và cứ thế họ trở thành tri kỉ của nhau. Câu thơ cuối cùng của đoạn thơ, cảm xúc của tác giả dồn nén lại và rồi bật lên thành một tiếng gọi đồng chí. Một tiếng gọi thôi mà gợi lên biết bao nhiêu tình nghĩ. ÔI những người cùng chung chí hướng, mối nhân duyên đặc biệt đã gắn kết họ lại để cho ta có được hòa bình như hôm nay. Tiếng thơ như là cách để nhà thơ khép lại ý của đoạn thơ thứ nhất và mở ra ý của đoạn thơ thứ hai.

Từ cơ sở hình thành tình đồng chí, nhà thơ Chính Hữu bắt đầu đi sâu hơn vào trong việc miêu tả biểu hiện cảm động của tình đồng chí để cho người đọc hiểu rõ hơn về thứ tình cảm này. Biểu hiện của tình đồng chí trước hết là ở sự cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau. Ở với nhau lâu ngày, sẻ chia với nhau nhiều điều nên những người lính hiểu nhau như hiểu chính bản thân mình vậy:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Bước ra nơi chiến trường gian khổ, người lính đã phải bỏ lại sau lưng mình là quê hương, là người thân. Họ đã tạm gác lại những công việc riêng để phục vụ cho công việc chung của cả dân tộc. Đó chính là lý tưởng cao đẹp của người lính. Hơn ai hết họ hiểu được rằng nếu việc chung của dân tộc mà không thành thì họ cũng chẳng thể nào sống được để mà làm việc riêng của mình. Để được tiếp tục trở thành anh nông dân với ruộng nương, họ phải làm tốt nhiệm vụ của người lính. Họ bỏ lại gian nhà không cho gió. Họ ra đi, mang theo nỗi nhớ hình bóng quê hương ở trong tim. Và ở nơi xứ xa, những con người, cảnh vật quê hương cũng nhớ họ đến cô cùng.

Không chỉ vậy, tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những sự thiếu thốn và gian lao giữa chiến trường khốc liệt:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Rét run người vừng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Cơn ớn lạnh, rét run, vừng trán ướt mồ hôi là những từ ngữ chỉ cơn sốt rét rừng. Có ai trải qua rồi mới hiểu nó khủng khiếp đến nhường nào. Nó làm cho con người ta rét run mà vẫn vã mồ hôi. Ở trong hoàn cảnh thiếu thốn của chiến trường, thuốc men không có, không ít người lính đã phải ra đi vì căn bệnh sốt rét chứ không phải vì đạn của kẻ thù. Người đọc chỉ nghe kể còn thấy thương, huống gì những người lính ngày ngày chứng kiến đồng đội mình chịu những cơn sốt rét. Tình thương của những người lính còn thể hiện rõ trong hình ảnh áo anh rách vai còn quần tôi thì có vài mảnh vá. Mặc dù ai cũng đều thiếu thốn nhưng họ sẵn sàng chia sẻ cho nhau từng tấm áo, manh quần, sẵn sàng cắt áo của mình ra để vá lành quần cho bạn. Họ thương nhau, bàn tay nắm lấy bàn tay.

Đoạn cuối của bài thơ, nhà thơ Chính Hữu mang đến một hình ảnh thật đẹp:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Rừng hoang sương muối, đó cũng là hoàn cảnh trong chiến trường mà những người lính phải trải qua. Đêm đêm, họ phải cùng nhau canh gác, cùng nhau chịu cái lạnh buốt ở nơi rừng hoang sương muối. Nhưng khó khăn ấy chẳng là gì. Họ vẫn luôn đứng cạnh bên nhau để chờ giặc đới. Động từ chờ cho thấy một thái độ đầy bình thản của những người lính. Họ không lo sợ, bởi vì họ luôn có nhau. Câu thơ cuối cùng mang đến một hình ảnh thơ rất đẹp: Đầu súng trăng treo. Đó là hình ảnh người lính đang đứng gác, súng đặt bên hông và chĩa mũi súng thẳng lên bầu trời. Trăng treo trên đầu súng, trăng soi sáng cho người lính có thể chia thẳng mũi súng vào quân thù.

Qua bài thơ Đồng chí, chúng ta thấy được tình cảm gắn kết của những người lính với nhau, hiểu thêm về những khó khăn, thiếu thốn của họ cả trong cuộc sống lẫn trong tranh đấu. Những kỉ niệm trong bài thơ là những kỉ niệm êm đẹp mà gần gũi. Câu thơ đọc dễ gần, dễ hiểu nên cảm xúc của tác giả gửi gắm trong bài cũng dễ dàng chạm đến lòng độc giả. Tình cảm đồng chí chắc chắn rằng sẽ còn cháy mãi.

Thu Thủy

Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu (Có dàn ý chi tiết)
Đánh giá bài viết